Bia mộ cổ thường ghi tên huý hoặc tên tự của người đã mất, quan hệ với người lập bia, quê quán, năm lập mộ theo niên hiệu và can chi, đôi khi cả chức tước và lời ghi công. Để dùng bia vào việc tìm tổ tiên, bạn cần làm sạch thật nhẹ, chụp đủ sáng từ nhiều góc, ghi vị trí từng ngôi mộ, rồi nhờ người đọc được chữ Hán Nôm phiên âm và dịch, thay vì tự đoán.
Bia mộ là một trong số ít nguồn tư liệu gần như không bị chép lại qua nhiều đời như gia phả. Chữ khắc trên đá cho biết chính người đương thời đã ghi gì. Nhưng bia cũng dễ hỏng: rêu, nắng mưa, đốt vàng mã sát chân bia, và cả những lần con cháu cọ rửa quá tay. Bài nói cách làm việc với bia sao cho lấy được thông tin mà vẫn giữ nguyên hiện vật cho đời sau.
Bia mộ cổ thường ghi những gì
Bố cục phổ biến của bia mộ khắc chữ Hán ở nhiều vùng là một dòng lớn ở giữa và vài dòng nhỏ hai bên. Dòng giữa thường nêu danh xưng của người mất theo quan hệ với người lập bia, kèm tên hoặc tên tự, và chữ chỉ mộ phần. Các danh xưng như hiển khảo, hiển tỷ, hiển tổ khảo cho biết người lập bia là con hay cháu của người nằm dưới mộ, nên chỉ một dòng giữa đã giúp xác định thế thứ.
Dòng bên phải thường ghi thời điểm lập bia, theo niên hiệu của triều vua đang trị vì cùng năm can chi, có khi thêm tháng và ngày. Dòng bên trái hay ghi người đứng lập: con trai, cháu nội, các chi họ cùng lập. Có bia ghi quê quán, chức vụ khi còn sống, hoặc thêm một bài minh ngắn ở mặt sau. Bia hiện đại bằng chữ Quốc ngữ thì đơn giản hơn, nhưng vẫn có thông tin về quê và người lập.
Không phải bia nào cũng đầy đủ. Có ngôi mộ chỉ có một tấm đá nhỏ khắc vài chữ; có ngôi mộ được xây lại và bia cũ bị thay bằng bia mới, mất luôn thông tin gốc. Vì vậy khi gặp bia cũ, nhất là bia đá xanh, bia gạch nung có chữ, hãy coi đó là tư liệu quý và ghi chép trước khi có ai tu sửa.
Làm sạch bia: nhẹ tay là trên hết
Rêu, đất và muội khói che chữ, nhưng làm sạch sai cách có thể làm mất chữ vĩnh viễn. Những nguyên tắc nên giữ:
- Chỉ dùng nước sạch và bàn chải lông mềm, chổi lông hoặc miếng bọt biển. Chải theo chiều nét khắc, không chà mạnh.
- Không dùng bàn chải sắt, giấy nhám, dao cạo, máy phun áp lực cao.
- Không dùng axit, nước tẩy, chất tẩy rửa gia dụng; chúng ăn mòn bề mặt đá và để lại vết.
- Không tô phấn, tô sơn, bôi mực vào nét chữ để đọc cho rõ; lớp phủ đó khó gỡ và làm sai lệch nét khắc.
- Không cạy rêu, địa y bám sâu vào đá; làm ẩm và chải nhẹ, phần nào không bong thì để lại.
- Không đốt vàng mã, hương vòng sát chân bia; nhiệt và muội làm đá nứt, đen dần qua năm tháng.
Nếu bia nằm trong khu mộ của họ khác, hoặc trong nghĩa trang có ban quản lý, hãy xin phép trước khi chạm vào. Bia thuộc di tích đã xếp hạng thì việc làm sạch, sửa chữa phải theo hướng dẫn của cơ quan quản lý di tích.
Chụp ảnh bia để đọc được về sau
Ảnh tốt giúp người đọc chữ Hán Nôm làm việc từ xa và giữ lại thông tin nếu bia hỏng. Cách chụp nhiều người làm và thấy hiệu quả:
- Chụp toàn cảnh ngôi mộ và vị trí của nó trong khu mộ, kèm một vật mốc như gốc cây, bờ ruộng, ngôi mộ lớn bên cạnh.
- Chụp thẳng mặt bia, máy song song với mặt đá để chữ không bị méo. Đặt một thước kẻ hoặc vật có kích thước biết trước bên cạnh để biết cỡ bia.
- Chụp thêm với ánh sáng xiên: buổi sáng sớm hoặc chiều muộn khi nắng chiếu chéo qua mặt bia, hoặc dùng đèn pin chiếu sát mặt đá từ một bên. Bóng đổ trong nét khắc làm chữ mờ hiện rõ hơn hẳn.
- Chụp từng dòng chữ cận cảnh, lần lượt từ phải sang trái, để người đọc ghép lại được.
- Chụp mặt sau và hai cạnh bia; nhiều bia có chữ ở những chỗ ít ai để ý.
- Ghi ngay vào sổ: tên khu mộ, thứ tự ngôi mộ, ngày chụp, người chụp, tình trạng bia.
Rập bia, tức dùng giấy và mực để in lại nét khắc, là kỹ thuật của người làm nghiên cứu, cho bản sao rất tốt nhưng có thể làm hại bề mặt đá nếu làm sai. Nếu muốn có bản rập, hãy nhờ người có kinh nghiệm và chỉ làm khi bia còn chắc.
Nhờ người đọc chữ Hán Nôm: hỏi gì và nhận lại gì
Người đọc được chữ Hán Nôm có thể là cụ đồ trong làng, nhà nghiên cứu ở viện hoặc khoa Hán Nôm của các trường đại học, người làm công tác bảo tàng, di tích ở địa phương, hoặc các nhóm người yêu Hán Nôm. Hãy gửi họ ảnh rõ nhất, kèm thông tin bạn đã biết: ngôi mộ ở đâu, nghi là của ai, trong nhà có gia phả nói gì.
Một bản đọc đầy đủ nên có ba phần: chép lại chữ Hán Nôm theo đúng vị trí trên bia, phiên âm từng chữ, và dịch nghĩa. Với những chữ mờ không đọc chắc, người đọc tốt sẽ ghi rõ là chữ nghi ngờ hoặc để trống, chứ không đoán cho tròn câu. Đó là dấu hiệu bạn đang làm việc với người cẩn thận.
Hỏi riêng về niên hiệu và can chi: năm lập bia ứng với năm dương lịch nào. Năm lập bia không phải năm mất; mộ có thể được lập bia nhiều năm sau, nhất là khi cải táng. Đừng nhầm hai mốc này khi ghi vào gia phả.
Các công cụ nhận dạng chữ Hán Nôm bằng máy có thể giúp đọc nháp, nhưng với bia mờ, chữ dị thể, chữ Nôm, kết quả máy thường sai ở đúng những chữ quan trọng nhất là tên người và địa danh. Dùng máy để có gợi ý, còn kết luận thì nhờ người kiểm.
Thông tin trên bia và cách dùng vào việc tìm tổ tiên
Mỗi loại thông tin trên bia giúp trả lời một câu hỏi khác nhau trong việc tìm nguồn cội:
| Thông tin trên bia | Trả lời câu hỏi | Lưu ý |
|---|---|---|
| Danh xưng ở dòng giữa | Người nằm dưới mộ là cha, mẹ, ông, bà của người lập bia | Danh xưng có dị bản theo vùng, nhờ người đọc giải thích |
| Tên, tên tự, tên hiệu | Đối chiếu với tên trong gia phả | Bia thường ghi tên tự hoặc hiệu, gia phả có khi ghi tên huý |
| Quê quán | Dòng này từ làng nào tới | Có thể là quê gốc của cả họ, không chỉ của người mất |
| Niên hiệu, can chi | Bia lập khoảng năm nào | Là năm lập bia, không chắc là năm mất |
| Người lập bia | Tên con cháu đời sau, số chi | Giúp nối các đời trong phả đồ |
Đặt các thông tin này cạnh gia phả và lời kể, như cách làm khi nhận họ, bạn sẽ thấy chỗ nào khớp, chỗ nào cần hỏi thêm.
Bia ở đình, chùa, nhà thờ họ: nguồn bổ sung cho bia mộ
Tổ tiên không chỉ để lại tên trên bia mộ. Ở nhiều làng, bia công đức dựng trong sân chùa, sân đình ghi tên những người góp tiền, góp ruộng tu sửa công trình, thường kèm quê quán và có khi cả tên vợ con. Một cái tên trên bia công đức cho biết người ấy sống ở làng vào khoảng thời gian dựng bia, và là người có điều kiện góp công với làng. Với các dòng họ đã rời quê, đây có khi là dấu vết duy nhất còn lại ở làng gốc.
Một số nơi còn có bia hậu, ghi tên những người được làng hoặc chùa nhận lo giỗ sau khi mất, thường vì họ đã cúng ruộng, cúng tiền cho làng. Bia hậu thường ghi ngày giỗ, và vì thế rất hữu ích khi đối chiếu với gia phả. Nhà thờ họ cũng có thể có bia ghi việc dựng nhà thờ, danh sách các chi góp công, hoặc một bài ký về gốc tích của họ.
Với những dòng có người đỗ đạt thời khoa cử, bia ghi tên người đỗ ở văn miếu, văn chỉ của tỉnh, huyện, làng là nguồn đáng tin để kiểm lời kể trong gia phả. Chính những tấm bia này giúp phân biệt một danh nhân thật của dòng họ với một sự chắp nối về sau.
Cách làm việc với các bia này giống như với bia mộ: xin phép người quản lý, làm sạch nhẹ tay hoặc không làm sạch, chụp đủ sáng, nhờ người đọc. Nhiều văn bia ở đình chùa đã được các viện nghiên cứu sưu tầm, rập và giới thiệu trong các tập tư liệu; hỏi người đọc chữ Hán Nôm xem tấm bia ở làng bạn đã có trong các tập đó chưa.
Lập sổ mộ chí để giữ thông tin lâu dài
Sau khi chụp và đọc, hãy gom lại thành một sổ mộ chí cho khu mộ của họ hoặc của gia đình: mỗi ngôi mộ một trang, có ảnh, vị trí, bản chép chữ, phiên âm, dịch nghĩa, và ghi chú người đó là ai trong gia phả. Sổ này là tài liệu dùng chung của cả họ, nên lưu nhiều bản, giao cho người giữ phả và vài người trẻ biết dùng máy tính.
Khi họ bàn tu sửa, xây lại khu mộ hay quy tập mộ về một chỗ, sổ mộ chí là căn cứ để không ai bị đặt nhầm chỗ, và để bia cũ, nếu phải thay, vẫn còn bản ghi đầy đủ. Nhiều họ chọn giữ lại bia cũ, đặt cạnh bia mới hoặc đưa về nhà thờ họ, thay vì bỏ đi. Đó là cách giữ dấu vết thật của các đời trước.
Nếu khu mộ có những ngôi không rõ của ai, đừng vội gộp hay bỏ. Ghi chúng vào sổ với ký hiệu riêng; có thể một lúc nào đó, bia của ngôi mộ bên cạnh hoặc một trang gia phả mới tìm được sẽ cho câu trả lời.
Câu hỏi thường gặp
Bia mộ chữ Hán quá mờ, chụp ảnh không đọc được thì làm sao?
Thử chụp lại với ánh sáng xiên vào những giờ khác nhau, hoặc dùng đèn chiếu sát mặt đá từ bốn phía rồi so các ảnh. Làm ẩm nhẹ mặt đá bằng nước sạch đôi khi giúp nét khắc hiện rõ hơn. Nếu vẫn không được, nhờ người có kinh nghiệm cân nhắc làm bản rập.
Có nên khắc lại chữ trên bia cũ cho rõ không?
Nên cân nhắc kỹ. Khắc lại có thể làm sai nét gốc nếu người khắc đoán chữ mờ. Cách nhiều họ chọn là giữ nguyên bia cũ, ghi chép và chụp ảnh đầy đủ, rồi làm thêm một bia mới bên cạnh nếu cần. Bia thuộc di tích thì không được tự ý khắc sửa.
Năm trên bia ghi theo niên hiệu vua thì đổi sang năm dương lịch thế nào?
Cần tra bảng niên hiệu các triều đại để biết niên hiệu đó bắt đầu năm nào, rồi cộng thêm số năm ghi trên bia, đối chiếu với năm can chi để kiểm. Người đọc chữ Hán Nôm thường làm luôn bước này. Nhớ rằng đó là năm lập bia.
Mộ tổ không có bia thì còn cách nào xác định không?
Có thể dựa vào gia phả có ghi vị trí mộ, sơ đồ khu mộ cũ, lời kể của các cụ, và các ngôi mộ có bia xung quanh. Hãy ghi lại tất cả các căn cứ, và khi chưa chắc thì ghi là mộ được truyền là của ai, chứ không khẳng định.
Có nên tự dùng ứng dụng điện thoại để dịch bia mộ không?
Có thể dùng để có một bản nháp, nhất là với bia rõ chữ. Nhưng với tên người, địa danh, chữ Nôm và chữ mờ, máy hay đọc sai mà vẫn trả lời rất tự tin. Trước khi ghi bất cứ thông tin nào vào gia phả, nên nhờ người đọc được chữ Hán Nôm kiểm lại.
Bia mộ có chữ Quốc ngữ thì có cần ghi chép gì đặc biệt không?
Vẫn nên chụp và ghi chép như bia cổ, vì bia Quốc ngữ thế kỷ trước cũng đang mờ dần và có thể bị thay khi xây lại mộ. Chú ý ghi quê quán, năm sinh, năm mất và người lập; với bia ghi cả âm lịch và dương lịch, chép nguyên văn cả hai.