Tính từ bản thân đi xuống, các đời con cháu được gọi lần lượt là con, cháu, chắt, chút, chít. Cháu là con của con, chắt là con của cháu, chút là con của chắt, chít là con của chút. Trong Hán Việt, bốn đời đầu tương ứng với tử, tôn, tằng tôn và huyền tôn.
Cụm "con cháu chắt chút chít" quen tai đến mức nhiều người đọc liền như một câu vần mà không để ý đó là năm đời nối tiếp. Bài này tách từng chữ ra, nói rõ ai là ai, phân biệt chữ cháu trong nhiều nghĩa khác nhau, và giải thích những cụm như tứ đại đồng đường, ngũ đại đồng đường mà các gia đình hay dùng khi mừng thọ. Phần cuối gợi ý cách ghi các đời con cháu vào sổ gia đình để đời sau đọc không nhầm.
Năm đời con cháu và tên gọi tương ứng
Bảng dưới xếp các đời tính từ một người xuống. Cột ví dụ dùng một gia đình giả định để dễ hình dung.
| Đời (tính từ mình) | Tiếng Việt | Hán Việt | Quan hệ trực tiếp | Ví dụ giả định |
|---|---|---|---|---|
| Đời 1 dưới | Con | Tử (con trai), nữ (con gái) | Người mình sinh ra hoặc nhận nuôi | Anh Minh, con của bà Lan |
| Đời 2 dưới | Cháu | Tôn | Con của con mình | Bé An, con anh Minh, là cháu nội bà Lan |
| Đời 3 dưới | Chắt | Tằng tôn | Con của cháu | Con của bé An khi lớn lên, là chắt bà Lan |
| Đời 4 dưới | Chút | Huyền tôn | Con của chắt | Đời tiếp theo, hiếm khi bà Lan còn gặp |
| Đời 5 dưới | Chít | Có sách gọi lai tôn | Con của chút | Thường chỉ còn trong gia phả |
Ở miền Nam, nhiều nhà gọi đời chắt là cháu cố, đối xứng với cách gọi ông bà cố ở đời trên. Tên Hán Việt cho đời thứ năm trở xuống ít được dùng trong đời sống, người ta ghi theo số đời của họ là chính.
Một điều cần nhớ: mỗi người chỉ có một đường thẳng lên tổ tiên ở mỗi bên, nhưng đường xuống con cháu thì toả ra rất nhanh. Một cụ có bốn người con, mỗi người con có ba cháu, thì đến đời chắt đã có thể vài chục người. Đó là lý do khi họp họ, người ta thường gọi theo nhánh, theo nhà, chứ ít ai kể hết tên từng đứa chắt.
Chữ "cháu" có ít nhất ba nghĩa
Tiếng Việt dùng một chữ cháu cho nhiều quan hệ khác nhau, trong khi tiếng Hán tách riêng. Nghĩa thứ nhất là con của con mình, Hán Việt là tôn. Đây là cháu theo trục thế thứ, đúng nghĩa của bài này. Cháu nội là con của con trai, cháu ngoại là con của con gái; Hán Việt gọi cháu ngoại là ngoại tôn.
Nghĩa thứ hai là con của anh chị em mình, Hán Việt là điệt. Bạn là cháu của chú, bác, cô, dì, cậu theo nghĩa này. Tuy cùng chữ cháu, quan hệ này nằm ngang một bậc so với cháu nội: chú của bạn và ông của bạn đứng ở hai đời khác nhau.
Nghĩa thứ ba là cách xưng hô lịch sự với người lớn tuổi không cùng họ, như khi bạn tự xưng cháu với một cụ hàng xóm. Ở đây không có quan hệ máu mủ nào, chỉ là phép lịch sự. Khi ghi gia phả hay kể chuyện họ hàng, cần nói rõ cháu theo nghĩa nào để người nghe không đoán sai đời. Gia phả cũ dùng chữ Hán nên tránh được nhầm lẫn này; gia phả viết bằng chữ Quốc ngữ thì nên ghi kèm quan hệ trực tiếp, ví dụ "con trai của ông A".
Chắt, chút, chít: vì sao ít gặp và vì sao vẫn nên biết
Chắt ngày nay khá phổ biến. Tuổi thọ tăng, nhiều cụ ngoài tám mươi đã có chắt. Trong đám mừng thọ, đám giỗ, việc phân biệt cháu và chắt giúp xếp chỗ ngồi, chia việc và gọi nhau cho đúng.
Chút thì hiếm hơn. Một người gặp được chút của mình thường đã ở tuổi rất cao. Vì hiếm nên nhiều nhà coi đó là chuyện vui lớn, được nhắc lại trong họ nhiều năm.
Chít gần như chỉ còn trong lời nói vần. Rất ít người còn sống để gặp chít. Chữ này tồn tại chủ yếu trong cụm "con cháu chắt chút chít" và trong cách đếm đời trên gia phả.
Biết để đọc đúng gia phả và văn bia. Văn bia, gia phả cũ hay ghi người lập bia là huyền tôn, tằng tôn của một vị tổ. Hiểu chữ giúp bạn biết người đó cách vị tổ bao nhiêu đời.
Biết để hiểu lệ tang ở quê. Ở nhiều nơi, khăn tang của cháu, chắt, chút được phân biệt bằng màu khăn hoặc một dấu chấm màu trên khăn, mỗi vùng một lệ. Người lo việc tang nhìn khăn là biết ai thuộc đời nào. Muốn biết lệ nơi mình, hỏi người lớn trong họ hoặc người chuyên lo việc tang ở địa phương.
Biết để kể chuyện họ cho đúng. Khi người lớn nói "nhà này năm đời ở cùng làng", nắm được tên gọi từng đời giúp bạn hình dung chuỗi người cụ thể, thay vì một con số trừu tượng.
Tứ đại đồng đường, ngũ đại đồng đường là gì
Đồng đường nghĩa là cùng một nhà. Tứ đại đồng đường là bốn đời cùng sống, thường là cụ, ông bà, cha mẹ và con cháu. Ngũ đại đồng đường là năm đời cùng sống, nghĩa là có người đã thấy mặt chút của mình. Theo quan niệm truyền thống, đó là phúc lớn của một gia đình, thể hiện sự sum vầy và tuổi thọ của người cao tuổi.
Ngày nay chữ đồng đường không còn đòi phải ở chung một mái nhà. Nhiều gia đình bốn đời sống ở nhiều nơi nhưng vẫn gọi là tứ đại đồng đường khi cả bốn đời cùng còn sống và tụ họp được trong dịp mừng thọ, ngày Tết. Bức ảnh chụp chung bốn, năm đời là món quà mà nhiều nhà chuẩn bị cho các cụ.
Một chi tiết nhỏ nhưng nên tế nhị: không phải nhà nào cũng có đủ các đời, và không phải ai cũng muốn được khen "phúc lớn" trong khi gia đình mình có người mất sớm. Khi viết lời chúc mừng thọ, bạn có thể nhắc đến sự sum họp của nhiều thế hệ mà không cần đếm đời hay so sánh với nhà khác.
Dâu, rể, con nuôi và con riêng đứng ở đời nào
Thế thứ tính theo quan hệ sinh ra hoặc nhận làm con, nên con dâu đứng cùng đời với con trai, con rể đứng cùng đời với con gái. Một người làm dâu trong họ thì con cháu gọi người đó theo đúng đời của chồng: vợ của cháu là cháu dâu, vợ của chắt là chắt dâu. Cách gọi này giúp các nhà xếp chỗ ngồi trong dịp giỗ họ, mừng thọ mà không phải bàn lại.
Con nuôi được coi là con theo quan hệ trong gia đình, và theo pháp luật hiện hành, con nuôi hợp pháp có quyền và nghĩa vụ như con đẻ với cha mẹ nuôi. Trong thế thứ của nhà, con nuôi đứng ở đời con, con của con nuôi đứng ở đời cháu. Việc ghi con nuôi vào gia phả dòng họ thì mỗi họ có lệ riêng; ngày càng nhiều họ ghi đầy đủ và chú thích rõ quan hệ.
Con riêng của vợ hoặc chồng đứng ở đời con so với cha dượng, mẹ kế trong cách gọi hằng ngày. Khi lập sổ gia đình, bạn chỉ cần ghi rõ cha mẹ đẻ là ai và người đó sống cùng ai; mọi quan hệ thế thứ sẽ tự rõ. Điều quan trọng là không để ai cảm thấy mình bị gạch ra khỏi gia đình chỉ vì cách ghi chép.
Ghi các đời con cháu vào sổ gia đình cho rõ
Nhiều gia đình có một cuốn sổ ghi ngày sinh, ngày giỗ, tên các con cháu. Để sổ dùng được lâu dài, bạn có thể theo trình tự sau:
- Chọn một người làm mốc, thường là người cao tuổi nhất còn sống hoặc người lập sổ. Ghi rõ "sổ tính từ ông A".
- Ghi mỗi đời trên một trang hoặc một mục riêng: con của ông A, rồi cháu, rồi chắt. Không trộn các đời vào cùng một danh sách.
- Mỗi người ghi tên đầy đủ, năm sinh, bố mẹ là ai. Chỉ cần ghi đúng bố mẹ thì đời sau luôn tự suy ra được thế thứ.
- Ghi cả con gái, con nuôi, cháu ngoại theo lệ nhà mình, kèm quan hệ trực tiếp. Gia phả của họ có thể theo lệ riêng, nhưng sổ gia đình không cần bỏ sót ai.
- Mỗi năm, sau Tết hoặc sau giỗ họ, cập nhật người mới sinh, người mới mất, người mới về làm dâu, làm rể.
- Sao một bản điện tử hoặc chụp ảnh từng trang, gửi cho vài người trong nhà để không mất khi sổ bị ẩm, thất lạc.
Cách làm gia phả của cả dòng họ phức tạp hơn nhiều và có bài riêng. Cuốn sổ gia đình chỉ là bước đầu, nhưng lại là nguồn tin quý cho người chép phả sau này.
Những câu nói dân gian quanh chuyện con cháu nhiều đời
Tiếng Việt có khá nhiều câu nói nhắc tới các đời con cháu. Hiểu đúng nghĩa giúp bạn dùng hợp hoàn cảnh:
- "Con cháu đầy đàn". Lời chúc về sự đông vui của gia đình, thường dùng trong đám cưới, mừng thọ. Không hàm ý so sánh nhà ít con.
- "Đời cha ăn mặn, đời con khát nước". Câu răn về trách nhiệm của đời trước với đời sau. Nên hiểu như lời nhắc sống tử tế, không phải lời phán về số phận.
- "Để phúc cho con cháu". Ý nói sống tốt để đời sau có nền nếp, có tiếng thơm. Đây là cách người xưa nghĩ về di sản tinh thần.
- "Cháu con nhà ai". Câu hỏi quen thuộc ở làng quê khi gặp người lạ, cho thấy việc biết thế thứ, biết gốc gác từng là cách người ta nhận nhau.
- "Con cháu chắt chút chít". Vừa là danh sách năm đời, vừa là cách nói vui về một đại gia đình đông người.
Mỗi câu phản ánh một góc nhìn về sự nối dõi. Khi dùng, nên chọn câu hợp với không khí, tránh dùng câu mang ý trách móc trong dịp vui.
Câu hỏi thường gặp
Chắt là đời thứ mấy?
Chắt là đời thứ ba tính từ mình xuống: con là đời thứ nhất, cháu là đời thứ hai, chắt là đời thứ ba. Nói cách khác, chắt là con của cháu. Trong Hán Việt, chắt gọi là tằng tôn.
Con của chắt gọi là gì?
Con của chắt gọi là chút, Hán Việt là huyền tôn. Con của chút gọi là chít. Ít ai sống đủ lâu để gặp chút của mình, nên đây là những tên gọi hay gặp trong gia phả hơn là trong đời sống.
Cháu ngoại có được ghi vào sổ gia đình không?
Sổ gia đình là của chính nhà bạn, nên ghi cả cháu nội lẫn cháu ngoại là chuyện bình thường. Gia phả của họ nội có thể theo lệ riêng của từng họ về việc ghi con cháu bên ngoại. Nên hỏi trưởng họ hoặc người chép phả xem lệ họ mình ra sao.
Ở miền Nam, cháu cố là ai?
Ở nhiều gia đình Nam Bộ, cháu cố là con của cháu, tức đời chắt. Cách gọi này đối xứng với ông bà cố ở đời trên. Tuy vậy tiếng địa phương không thống nhất, nên khi nghe nên hỏi thêm quan hệ trực tiếp cho chắc.
Ngũ đại đồng đường có phải là năm đời ở chung nhà không?
Nghĩa gốc là năm đời cùng một nhà. Ngày nay nhiều gia đình dùng chữ này khi năm đời cùng còn sống và tụ họp được, dù không ở chung. Đây là dịp hiếm, nhiều nhà chụp ảnh lưu lại cho con cháu sau này.
Tôn và điệt khác nhau thế nào?
Tôn là cháu theo trục dọc, tức con của con mình. Điệt là cháu theo trục ngang, tức con của anh chị em mình. Tiếng Việt gọi cả hai là cháu, nên khi ghi gia phả bằng chữ Quốc ngữ cần ghi kèm quan hệ trực tiếp để không nhầm đời.