Di sản dùng vào việc thờ cúng là phần tài sản mà người lập di chúc dành riêng để lo việc thờ cúng. Theo Bộ luật Dân sự 2015, phần này không đem chia thừa kế, được giao cho người được chỉ định trong di chúc quản lý; nếu di chúc không chỉ định thì những người thừa kế cùng cử người quản lý. Nếu toàn bộ di sản không đủ trả các nghĩa vụ tài sản của người chết thì không được dành phần thờ cúng.
Đây là phiên bản hiện đại của "phần hương hoả" ngày xưa, nhưng khác ở một điểm căn bản: nó do người có tài sản tự nguyện lập ra và chỉ định người quản lý, không mặc định thuộc về con trưởng. Bài này diễn giải điều luật bằng lời thường, so sánh với tài sản chia thừa kế, nêu những điều nên ghi trong di chúc và những tình huống hay sinh tranh chấp. Bài chỉ nêu nguyên lý; khi lập di chúc hay có tranh chấp, bạn cần hỏi luật sư, phòng công chứng và kiểm văn bản đang có hiệu lực.
Điều luật nói gì, bằng lời thường
Ai lập ra phần thờ cúng. Người lập di chúc. Đây là quy định nằm trong phần thừa kế theo di chúc, nghĩa là người có tài sản phải tự thể hiện ý muốn dành một phần cho việc thờ cúng.
Phần đó không chia. Tài sản đã được dành cho việc thờ cúng không đem chia cho những người thừa kế như phần di sản còn lại. Nó tồn tại để phục vụ việc thờ cúng.
Ai quản lý. Người được chỉ định trong di chúc. Không có quy định người đó phải là con trưởng, con trai hay người cùng họ; người lập di chúc chọn ai mình tin.
Khi người quản lý làm không đúng. Nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thoả thuận của những người thừa kế, những người thừa kế có quyền giao phần di sản thờ cúng cho người khác quản lý.
Khi di chúc không chỉ định ai. Những người thừa kế cùng cử người quản lý phần di sản thờ cúng.
Khi không còn người thừa kế theo di chúc. Luật có quy định riêng về việc phần di sản này thuộc về ai trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật; trường hợp này hiếm và nên hỏi luật sư.
Khi di sản không đủ trả nợ. Nếu toàn bộ di sản không đủ thanh toán nghĩa vụ tài sản của người chết, không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng. Nghĩa vụ với người khác được đặt trước.
Di sản thờ cúng khác phần di sản chia thừa kế thế nào
Bảng so sánh giúp các con hiểu vì sao một ngôi nhà, một mảnh đất được dành cho thờ cúng lại không thể đem chia như những tài sản khác của cha mẹ.
| Di sản dùng vào việc thờ cúng | Phần di sản chia thừa kế | |
|---|---|---|
| Mục đích | Phục vụ việc thờ cúng lâu dài | Chuyển quyền sở hữu cho người thừa kế |
| Có chia không | Không chia cho các người thừa kế | Chia theo di chúc hoặc theo pháp luật |
| Ai nắm giữ | Người quản lý được chỉ định hoặc được cử | Từng người thừa kế nhận phần của mình |
| Người nắm giữ có toàn quyền định đoạt không | Không, chỉ quản lý để thực hiện việc thờ cúng | Có, theo quy định chung về quyền sở hữu |
| Có thể bị thay người không | Có, khi người quản lý không làm đúng | Không áp dụng |
| Điều kiện | Di sản đủ thanh toán nghĩa vụ tài sản của người chết | Thanh toán nghĩa vụ trước rồi mới chia |
Điểm mấu chốt là người quản lý không phải chủ sở hữu theo nghĩa thông thường. Họ giữ tài sản để lo thờ cúng, chứ không được tự ý bán, tặng hay thế chấp như tài sản riêng. Cách hiểu cụ thể khi áp dụng có thể khác nhau tuỳ hồ sơ, vì vậy những giao dịch liên quan nên được hỏi ý kiến chuyên môn trước.
Người quản lý: ai, làm gì, khi nào bị thay
Người quản lý di sản thờ cúng thường là người sẽ trực tiếp giữ bàn thờ: một người con ở gần, con trưởng, con gái, hoặc một người cháu. Người lập di chúc có thể cân nhắc ai thật sự ở gần nơi thờ, có sức khoẻ, có thời gian và được anh chị em tin cậy, thay vì chỉ nhìn vào thứ bậc.
Việc của người quản lý gồm giữ gìn tài sản, dùng tài sản hoặc hoa lợi của nó cho việc thờ cúng theo đúng ý người lập di chúc, và cùng những người thừa kế giữ thoả thuận về cách làm. Ví dụ giả định: di chúc dành ngôi nhà cũ làm nơi thờ cúng, người quản lý ở trong nhà, lo các ngày giỗ, sửa sang khi cần, không đem nhà đi bán hay cho người ngoài thuê để hưởng riêng.
Nếu người quản lý không làm đúng, những người thừa kế có quyền giao cho người khác. Trên thực tế, việc thay người quản lý thường đi qua thương lượng trong gia đình trước; khi không thống nhất được, có thể phải nhờ hoà giải hoặc giải quyết theo thủ tục tố tụng. Vì vậy, di chúc càng ghi rõ việc của người quản lý, càng ít chỗ cho tranh cãi về sau.
Viết di chúc có phần thờ cúng: những điều nên ghi rõ
Phần lớn tranh chấp về di sản thờ cúng bắt nguồn từ một di chúc ghi chung chung. Những mục dưới đây là gợi ý để người lập di chúc trao đổi với công chứng viên hay luật sư, không phải mẫu di chúc.
- Tài sản nào được dành cho việc thờ cúng: mô tả đủ để xác định, ví dụ thửa đất, ngôi nhà theo giấy chứng nhận, hoặc một khoản tiền cụ thể.
- Mục đích sử dụng: đặt bàn thờ, lo giỗ, sửa mộ, hay dùng hoa lợi cho các việc đó.
- Người quản lý chính và người quản lý dự phòng nếu người chính không thể tiếp tục.
- Người quản lý có được ở trong nhà, cho thuê một phần để lấy tiền lo giỗ hay không.
- Những việc người quản lý không được làm, ví dụ bán, thế chấp, tặng cho.
- Cách các con khác tham gia: được về thắp hương, dự giỗ, được xem sổ thu chi.
- Ý muốn về việc chuyển giao cho đời sau khi người quản lý già yếu hoặc mất.
Di chúc phải đáp ứng điều kiện về năng lực, sự tự nguyện, nội dung và hình thức theo luật. Lập tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc có người làm chứng đúng quy định giúp giảm nguy cơ di chúc bị tranh cãi về sau.
Khi cha mẹ không để di chúc
Rất nhiều gia đình Việt không lập di chúc. Khi đó, di sản được chia theo pháp luật cho những người ở hàng thừa kế, và không tự động có "phần thờ cúng" nào được tách ra. Ngôi nhà có bàn thờ, nếu đứng tên cha mẹ, cũng là di sản như mọi tài sản khác.
Dù vậy, những người thừa kế có thể cùng thoả thuận cách xử lý di sản: để một người nhận ngôi nhà và giữ bàn thờ, đổi lại người đó thanh toán phần giá trị cho các anh chị em; hoặc cùng giữ chung ngôi nhà làm nơi thờ cúng, không bán, không chia. Thoả thuận như vậy nên được lập thành văn bản, công chứng hoặc chứng thực theo quy định, để có giá trị rõ ràng.
Cần hiểu rằng một thoả thuận giữa các anh chị em khác về bản chất với di sản thờ cúng do cha mẹ lập trong di chúc. Hiệu lực, cách thay đổi về sau và hệ quả khi có người muốn rút ra đều có thể khác. Trước khi ký, nên hỏi luật sư để chọn hình thức phù hợp với điều cả nhà thật sự muốn.
Những tình huống hay sinh tranh chấp
Di chúc chỉ ghi "để lại nhà cho con cả lo hương khói". Câu này có thể hiểu là để lại nhà cho con cả sở hữu, cũng có thể hiểu là dành nhà làm di sản thờ cúng do con cả quản lý. Hai cách hiểu dẫn tới hệ quả rất khác nhau.
Người quản lý muốn bán nhà để mua chỗ khác. Có khi lý do chính đáng, nhà cũ xuống cấp, ở xa. Nhưng nếu không có sự đồng thuận của những người thừa kế và không phù hợp di chúc, việc này dễ thành tranh chấp.
Di sản thờ cúng chiếm gần hết tài sản. Những người thừa kế khác, nhất là người được pháp luật bảo vệ phần hưởng bắt buộc, có thể không đồng ý. Đây là chỗ cần tư vấn pháp lý kỹ trước khi lập di chúc.
Người quản lý mất, con của họ tiếp tục ở. Nếu di chúc không nói về người kế tiếp, các bên dễ có cách hiểu khác nhau về việc ai quản lý tiếp.
Có nợ chưa trả. Nếu di sản không đủ trả nợ của người mất, phần thờ cúng không được dành ra; gia đình đôi khi biết điều này muộn.
Trước khi ký: kiểm và hỏi ai
Mọi điều trong bài này là nguyên lý chung, viết để người đọc biết mình cần hỏi gì. Văn bản pháp luật có thể được sửa đổi, hướng dẫn áp dụng có thể thay đổi, và mỗi hồ sơ nhà đất có đặc điểm riêng. Trước khi lập di chúc có phần thờ cúng, trước khi ký thoả thuận phân chia, hoặc khi đã có bất đồng, bạn nên kiểm văn bản hiện hành và hỏi người có chuyên môn.
Những nơi có thể hỏi: tổ chức hành nghề công chứng nơi có nhà đất, văn phòng luật sư, cán bộ tư pháp xã, phường, trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước nếu thuộc diện được trợ giúp. Mang theo giấy tờ nhà đất, giấy tờ nhân thân, và ghi sẵn câu hỏi cụ thể.
Ngoài pháp lý, đừng quên phần tình. Một di chúc có phần thờ cúng sẽ được tôn trọng hơn nhiều nếu người lập đã nói trước với các con về mong muốn của mình và lý do chọn người quản lý. Các con nghe từ chính cha mẹ thì ít khi nghi ngờ hay tranh cãi về sau.
Câu hỏi thường gặp
Di sản dùng vào việc thờ cúng có bắt buộc giao cho con trưởng không?
Không. Người lập di chúc chỉ định người quản lý theo ý mình; đó có thể là con trưởng, con gái, con út hay một người cháu. Nếu di chúc không chỉ định, những người thừa kế cùng cử người quản lý.
Người quản lý di sản thờ cúng có được bán tài sản đó không?
Người quản lý giữ tài sản để thực hiện việc thờ cúng, không phải chủ sở hữu theo nghĩa thông thường. Việc bán, thế chấp hay tặng cho thường không phù hợp với mục đích đó. Trường hợp cụ thể cần hỏi luật sư.
Không có di chúc thì có di sản thờ cúng không?
Theo quy định, di sản thờ cúng do người lập di chúc dành ra. Khi không có di chúc, các người thừa kế có thể thoả thuận giữ một tài sản làm nơi thờ cúng, nhưng đó là thoả thuận giữa họ, cần lập văn bản rõ ràng.
Có giới hạn tỷ lệ phần di sản dành cho thờ cúng không?
Bộ luật Dân sự 2015 không ghi một tỷ lệ cố định như luật cổ thường được dẫn. Tuy vậy, các quy định khác về thừa kế vẫn áp dụng, ví dụ phần của người thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc. Hỏi luật sư trước khi lập.
Muốn thay người quản lý di sản thờ cúng thì làm thế nào?
Trước hết các người thừa kế bàn và thống nhất với nhau. Nếu người quản lý không thực hiện đúng di chúc hoặc thoả thuận, luật cho phép những người thừa kế giao cho người khác. Khi không thống nhất, có thể cần hoà giải hoặc thủ tục tố tụng.
Một khoản tiền tiết kiệm có làm di sản thờ cúng được không?
Di sản là tài sản của người chết, gồm cả tiền. Người lập di chúc có thể dành một khoản tiền cho việc thờ cúng và chỉ định người quản lý. Nên ghi rõ cách dùng khoản tiền để tránh tranh cãi.