Một mục người trong gia phả nên có tối thiểu: tên gọi và tên huý, đời thứ mấy, con ai, vợ hoặc chồng là ai, các con theo thứ tự, ngày giỗ theo âm lịch và nơi an táng; nếu còn biết thì thêm tên tự, tên hiệu, thuỵ hiệu, công việc, nơi ở và những việc đáng nhớ. Bao nhiêu đó đủ để con cháu đời sau nhận ra người ấy, nối người ấy vào sơ đồ và lo được giỗ, lo được mộ.
Khó nhất không phải là danh sách mục, mà là ghi sao cho đúng: phân biệt các loại tên, viết công việc của một người thế nào để không thành lời khen lấy lệ, ghi nơi an táng sao cho năm mươi năm sau còn tìm ra. Bài đi lần lượt từng nhóm thông tin, kèm một mẫu mục người theo ví dụ giả định ở cuối.
Một mục người trong phả cần trả lời những câu hỏi nào
Thử đặt mình vào vị trí một người cháu ba đời sau, cầm cuốn phả lần đầu. Người đó cần biết: ông này là ai, thuộc đời nào, chi nào; ông là con ai và có những con nào để lần lên lần xuống; vợ ông là ai, quê ở đâu; ông mất ngày nào để còn giỗ; mộ ông nằm ở đâu để còn tảo mộ. Năm câu hỏi đó là phần xương sống. Mục nào trả lời đủ năm câu là mục dùng được, dù chỉ dài vài dòng.
Phần còn lại, như ông làm nghề gì, từng sống ở đâu, có chuyện gì đáng nhớ, là phần thịt. Nó làm cho người trong phả hiện ra như một con người chứ không chỉ là một cái tên. Nhưng phần này nên ghi khi có nguồn, và không cần đều tay cho mọi người. Một mục rất dài bên cạnh một mục rất ngắn là chuyện bình thường, chỉ phản ánh lượng tư liệu còn giữ được.
Một điều dễ quên: ghi cả nguồn của thông tin. Chỉ một chữ nhỏ cuối mục như theo lời bà cả kể, theo bia mộ, theo giấy khai sinh, đã đủ để người sau biết thông tin nào chắc, thông tin nào cần kiểm thêm. Nhiều cuốn phả cũ không có thói quen này, và đó là lý do vì sao con cháu ngày nay khó phân biệt chuyện thật với chuyện truyền miệng.
Tên huý, tên tự, tên hiệu, thuỵ hiệu: phân biệt để ghi cho đúng
Người xưa, nhất là người có học, thường có nhiều tên dùng trong những hoàn cảnh khác nhau. Gia phả cũ ghi đủ các tên này nên người đọc hay rối. Bảng dưới tóm cách hiểu phổ biến; mỗi vùng, mỗi họ có thể dùng hơi khác:
| Loại tên | Là gì | Ghi trong phả thế nào |
|---|---|---|
| Tên huý (tên chính) | Tên cha mẹ đặt khi sinh, tên dùng trong giấy tờ | Ghi đầy đủ, thường kèm chữ huý ở trước |
| Tên tục, tên gọi ở nhà | Tên gọi thân mật, có khi đặt xấu cho dễ nuôi theo tục cũ | Ghi thêm trong ngoặc nếu làng xóm quen gọi |
| Tên tự | Tên đặt thêm khi trưởng thành, thường gắn ý với tên huý | Ghi sau tên huý, kèm chữ tự |
| Tên hiệu | Tên tự đặt hoặc người khác tặng, hay gặp ở người làm thơ, dạy học | Ghi kèm chữ hiệu |
| Thuỵ hiệu | Tên đặt sau khi mất để tôn xưng, có khi do con cháu hoặc người trong làng đặt | Ghi kèm chữ thuỵ, nhiều khi là tên khắc trên bài vị |
| Pháp danh, tên thánh | Tên theo tôn giáo của người đó | Ghi thêm nếu gia đình muốn, tôn trọng niềm tin của người đã mất |
Người thời nay phần lớn chỉ có tên khai sinh, nên mục người đời gần thường gọn hơn nhiều. Nếu ông bà có tên gọi ở nhà khác tên giấy tờ, hãy ghi cả hai: đến khi cần làm thủ tục với giấy tờ cũ như sổ đất, giấy chứng tử, con cháu sẽ cần đúng cái tên trên giấy.
Tục kiêng huý và cách ghi tên huý hôm nay
Theo nếp cũ, con cháu tránh gọi thẳng tên huý của ông bà, cha mẹ đã mất, nhất là trong lúc cúng; tên huý thường chỉ được đọc khẽ hoặc ghi trên bài vị, trong gia phả. Có nhà còn tránh đặt tên con trùng với tên huý của người trên. Đó là cách thể hiện lòng kính trọng, và ở nhiều làng tục này vẫn được giữ.
Vì kiêng gọi, nhiều cuốn phả cũ ghi tên huý bằng chữ Hán nhỏ hơn, hoặc chỉ ghi tên tự, tên thuỵ mà bỏ trống tên huý, khiến người đời sau không biết tên thật của cụ. Chính vì vậy, khi lập hay bổ sung phả hôm nay, nhiều họ thống nhất ghi rõ tên huý của mọi người. Gia phả là văn bản lưu giữ, không phải lời khấn; ghi tên để nhớ không trái với tinh thần kiêng huý.
Với các cuốn phả chữ Hán cũ, tên huý đôi khi được viết thiếu nét hoặc thay bằng chữ đồng âm, cũng là một lối kiêng. Người phiên âm cần biết điều này để không đọc sai tên cụ; khi gặp chữ lạ trong phần tên, nên ghi chú là chữ có thể bị viết kiêng, thay vì tự đoán một chữ khác cho dễ đọc.
Một lưu ý nhỏ khi đặt tên con cháu: nếu nhà bạn còn giữ tục tránh trùng tên người trên, bảng tên huý trong phả là chỗ để tra. Còn đặt tên thế nào cho đẹp là chuyện riêng của từng nhà, gia phả chỉ giúp tránh trùng ngoài ý muốn.
Vợ chồng, con cái và thứ bậc trong mỗi mục
Ghi vợ hoặc chồng với đủ họ tên và quê. Nàng dâu là người lập nên các chi sau, nên phả nên ghi đủ họ tên của bà, con ông bà nào, quê ở đâu. Nhiều phả cũ chỉ ghi chính thất họ Nguyễn mà không có tên, đến nay con cháu không biết bà nội của ông mình là ai.
Nhiều đời vợ chồng thì ghi theo thứ tự. Người có hai, ba đời vợ hoặc chồng nên được ghi đủ, theo thứ tự thời gian, và ghi rõ con nào là con của ai. Đây là thông tin quan trọng khi lần các chi, và không có gì phải giấu.
Con ghi theo thứ tự sinh, cả trai lẫn gái. Cách ghi con gái đến đâu tuỳ lệ họ đã thống nhất, nhưng ít nhất nên có tên và thứ bậc trong nhà, để thứ tự anh chị em không bị sai lệch. Con mất sớm cũng nên ghi, kèm chú thích.
Dùng cùng một cách xưng thứ bậc cho cả cuốn. Miền Bắc gọi con đầu là cả, miền Nam gọi con đầu là hai; trộn hai cách trong một cuốn phả là nguồn nhầm lẫn lớn. Hãy ghi số thứ tự sinh, rồi nếu muốn thì ghi thêm cách gọi trong nhà.
Công việc, học vấn, việc đã làm: ghi đến đâu là vừa
Phả cũ hay ghi đỗ đạt, chức tước, vì đó là thứ được xã hội thời ấy coi trọng. Phả hôm nay có thể ghi rộng hơn: nghề nghiệp chính, nơi làm việc lâu năm, quá trình đi học, tham gia kháng chiến, đi xa lập nghiệp, những việc đã làm cho làng xóm. Tiêu chí đơn giản là ghi điều có thật và có ích để con cháu hiểu người đó đã sống thế nào.
Tránh viết những câu khen chung chung như người hiền lành phúc hậu, cả đời vì con cháu, vì câu nào cũng đúng với rất nhiều người và không giúp ai hình dung thêm. Một chi tiết cụ thể đáng giá hơn mười tính từ: ông làm thợ mộc ở chợ huyện bốn mươi năm, bà nuôi tằm và dạy các cháu đọc chữ, cụ là người đứng ra giữ sổ quỹ họ suốt hai mươi năm.
Những chuyện riêng tư, như bệnh tật, nợ nần, mâu thuẫn trong nhà, không cần đưa vào phả. Gia phả sẽ được nhiều người đọc qua nhiều đời; điều gì khiến người trong cuộc hay con cháu họ buồn lòng thì nên để lại trong ký ức của gia đình. Người sống, nhất là người trẻ, cũng có quyền không muốn thông tin cá nhân của mình như nơi làm việc, số giấy tờ nằm trong một văn bản lưu hành rộng.
Ngày giỗ và nơi an táng: ghi để người sau tìm được
Ngày giỗ nên ghi theo âm lịch như tập quán, kèm năm mất nếu biết. Những ca khó như năm can chi lặp lại, người mất xa không rõ ngày, người mất khi lịch hai miền khác nhau thì cần cách ghi riêng; điều cốt lõi là ghi rõ chỗ nào chắc, chỗ nào ước đoán, và gia đình đang giỗ vào ngày nào theo quy ước của họ.
Nơi an táng là phần hay bị ghi sơ sài nhất. Ghi mộ ở nghĩa trang làng là chưa đủ, vì nghĩa trang có thể rộng hàng chục mẫu, được quy hoạch lại, hoặc mộ đã cải táng sang chỗ khác. Nên ghi tên khu nghĩa trang hiện hành, hàng và vị trí nếu có đánh số, mốc nhận biết gần đó, và lịch sử của ngôi mộ: an táng lần đầu ở đâu, cải táng năm nào, quy tập về đâu.
Nếu người mất được hoả táng, ghi nơi gửi tro cốt hoặc nơi rải tro theo nguyện vọng của gia đình, dùng giọng trung tính như mọi mục khác. Với mộ chưa tìm thấy, như người mất trong chiến tranh, ghi rõ là chưa tìm thấy và những thông tin đã biết, để mỗi khi có tin mới con cháu biết đối chiếu với cái gì. Ảnh chụp ngôi mộ kèm ngày chụp cũng là một tư liệu nên cất cùng bản số của cuốn phả.
Mẫu một mục người trong gia phả (ví dụ giả định)
Dưới đây là mẫu mục người hoàn chỉnh với thông tin hoàn toàn giả định, để bạn hình dung cách sắp xếp. Họ bạn có thể đổi thứ tự hay thêm bớt mục cho hợp lệ của mình:
- Đời thứ 9, chi hai, số thứ tự trong đời: 9.2.3 (theo quy ước đánh số trong phàm lệ).
- Huý: Trần Văn Hạnh. Tên gọi ở nhà: Cu Hạnh. Là con thứ ba của ông Trần Văn Lộc (đời 8) và bà Phạm Thị Nhàn.
- Vợ: bà Lê Thị Hoà, con ông Lê Văn Sử, quê một xã ven sông của tỉnh Hưng Yên. Ông bà có bốn người con: Trần Thị Mai, Trần Văn Bình, Trần Văn An (mất khi còn nhỏ), Trần Thị Liên.
- Công việc: thợ rèn ở làng, sau làm ở hợp tác xã cơ khí của xã; giữ sổ quỹ khuyến học của chi trong nhiều năm.
- Mất ngày 12 tháng 9 âm lịch; năm mất theo giấy chứng tử. Con trưởng là ông Bình giữ giỗ.
- An táng: nghĩa trang thôn, khu B, hàng thứ tư tính từ cổng, cạnh hai cây sấu lớn; cải táng vào khu mộ chi hai sau ba năm.
- Nguồn: lời kể của bà Mai, giấy chứng tử do gia đình giữ, đối chiếu thực địa khi tảo mộ.
Mục như vậy chưa đến hai trăm chữ mà đã trả lời đủ năm câu hỏi xương sống, có công việc cụ thể và có nguồn. Đó là mức nên nhắm tới cho người đời gần, nơi thông tin còn dễ hỏi.
Câu hỏi thường gặp
Không biết tên huý của cụ, chỉ biết tên gọi trong làng thì ghi thế nào?
Ghi tên gọi đang biết và chú thích rõ là chưa rõ tên huý. Sau này nếu tìm được trên bia mộ, bài vị hay giấy tờ cũ thì bổ sung, ghi kèm nguồn. Không nên tự đặt một cái tên cho tròn mục, vì người sau sẽ tưởng đó là tên thật của cụ.
Có nên ghi số căn cước, số điện thoại của người còn sống vào gia phả không?
Không nên. Gia phả được sao ra nhiều bản và lưu qua nhiều đời, nên chỉ cần thông tin để nhận ra người và nối quan hệ. Số giấy tờ, số điện thoại, địa chỉ cụ thể thuộc sổ liên lạc của ban liên lạc họ, giữ riêng và cập nhật riêng.
Thuỵ hiệu khắc trên bài vị khác tên trong gia phả thì tin bên nào?
Thường cả hai đều đúng vì chúng là hai loại tên khác nhau. Bài vị hay khắc thuỵ hiệu hoặc tên tự, còn phả ghi tên huý. Hãy ghi cả hai vào mục người, chú thích tên nào khắc ở đâu, để người sau đối chiếu được.
Người theo đạo Công giáo trong họ có ghi tên thánh vào gia phả không?
Tuỳ ý gia đình người đó. Nhiều họ có cả người theo Phật giáo, Công giáo hay không theo tôn giáo nào; ghi tên thánh hoặc pháp danh bên cạnh tên khai sinh là cách tôn trọng người đã mất. Nên hỏi gia đình trực tiếp trước khi ghi.
Mục người nên viết bằng giọng kể hay gạch đầu dòng?
Hai cách đều dùng được. Gạch đầu dòng dễ tra và dễ bổ sung, hợp với phần thông tin cơ bản. Phần kể về cuộc đời thì viết thành vài câu liền mạch sẽ dễ đọc hơn. Nhiều cuốn phả làm kết hợp: phần trên là các dòng thông tin, phần dưới là một đoạn kể ngắn.
Nên ghi mục cho người mất khi còn nhỏ không?
Nên. Đứa trẻ đó vẫn là một người con trong nhà, ghi lại giữ cho thứ tự anh chị em không bị sai và để gia đình có chỗ nhớ đến. Mục có thể rất ngắn: tên, con ai, thứ mấy, mất năm nào nếu biết, nơi an táng.