CuuHuyen.comCửu Huyền
Gia phả: lập, ghi chép và giữ gìn

Phả ký, phả đồ, tộc ước, mộ chí: đọc hiểu từng phần của một cuốn gia phả

Một cuốn gia phả đầy đủ có lời tựa, phàm lệ, phả ký, phả đồ, tộc ước, mộ chí và phụ lục. Mỗi phần giữ một việc riêng, thiếu phần nào thì bù thế nào.

An elderly man seen from behind at a wooden table in a village house in Ninh Binh, slowly turning yellowed pages of an old bound family register, pages blurred, soft window light

Một cuốn gia phả theo lối truyền thống thường gồm lời tựa, phàm lệ, phả ký (phần kể từng người qua các đời), phả đồ (sơ đồ các đời), tộc ước hay lệ họ, phần ghi mộ phần và ngày giỗ, cùng các phụ lục như ruộng họ, nhà thờ, văn bia. Không phải cuốn phả nào cũng đủ ngần ấy phần, và tên gọi mỗi phần cũng khác nhau tuỳ họ, tuỳ vùng, tuỳ người chép.

Nhiều người cầm cuốn phả của họ mình lần đầu chỉ lật tìm tên ông bà, rồi gấp lại. Hiểu cấu trúc của nó thì đọc nhanh hơn, biết phần nào đáng tin hơn phần nào, và khi đến lượt mình góp tay bổ sung, bạn biết đặt thông tin mới vào đâu cho đúng chỗ. Bài đi qua từng phần theo thứ tự thường gặp trong các bản phả cũ lẫn các bản in gần đây.

Vì sao một cuốn gia phả lại chia thành nhiều phần

Gia phả gánh nhiều việc cùng lúc. Nó là danh sách người trong họ qua các đời, là sổ ghi ngày giỗ và nơi đặt mộ để con cháu còn biết đường mà lo, là văn bản ghi lệ họ để các chi cùng theo, và nhiều khi còn là bản tự thuật của cả dòng họ về chuyện mình từ đâu tới. Gom tất cả vào một mạch kể liền thì người đọc sau rất khó tra; vì thế người chép phả xưa tách chúng ra thành từng phần, mỗi phần một kiểu trình bày.

Cách chia này không do một quy định nào đặt ra. Nó hình thành từ thói quen chép phả của giới nho sĩ, chịu ảnh hưởng lối làm phả của Trung Hoa nhưng được người Việt điều chỉnh theo nếp nhà mình. Có họ chép rất kỹ, có cả trăm trang tộc ước; có họ chỉ có vài tờ ghi tên các đời và ngày giỗ. Cả hai đều là gia phả, chỉ khác độ dày.

Khi đọc một cuốn phả lạ, việc đầu tiên nên làm là lật mục lục, nếu có, hoặc lướt qua để nhận ra ranh giới giữa các phần. Một trang chữ liền với những đoạn kể dài thường là phả ký; một trang có các ô tên nối với nhau bằng nét kẻ là phả đồ; những đoạn đánh số điều một, điều hai thường là tộc ước. Nhận ra như vậy, bạn sẽ không còn thấy cuốn phả là một khối chữ khó vào.

Lời tựa và phàm lệ: hai phần đầu ít người đọc kỹ

Lời tựa, còn gọi là phả tự, thường do người khởi soạn hoặc người tục phả viết. Nội dung hay gặp là lý do lập phả, đôi dòng về gốc tích của họ theo lời truyền, ai đã góp công tìm tư liệu và lần lập hay sửa phả ấy diễn ra vào năm nào. Một cuốn phả được tục nhiều lần có thể có nhiều lời tựa nối nhau, mỗi lời ứng với một đợt bổ sung. Đọc các lời tựa theo thứ tự, bạn thấy được lịch sử của chính cuốn phả.

Phàm lệ là phần quy ước. Ở đây người chép ghi cách mình đánh số đời, cách gọi chi và phái, có ghi con gái hay không và ghi đến đâu, dùng chữ gì để chỉ người mất sớm, người không rõ hậu duệ, người đi xa. Phần này ngắn nhưng rất quan trọng: thiếu nó, người đọc sau dễ hiểu sai một ký hiệu, tưởng một người tuyệt tự trong khi chỉ là người chép không có thông tin.

Một lời khuyên thực tế: khi nhận việc bổ sung phả, hãy đọc phàm lệ cũ trước tiên và giữ đúng các quy ước đó, trừ khi họ đã bàn và quyết định đổi. Nếu đổi, ghi rõ trong một phàm lệ mới kèm năm, để không ai lẫn giữa cách ghi cũ và cách ghi mới.

Phả ký: phần kể về từng người

Đây là thân của cuốn phả. Phả ký đi lần lượt từ thuỷ tổ, tức người được họ coi là đời một, xuống các đời sau. Mỗi người có một mục riêng, dài ngắn tuỳ lượng thông tin còn giữ được. Người xa nhất thường chỉ có tên và ngày giỗ; người gần hơn có thêm vợ chồng, con cái, công việc, nơi an táng.

Thứ tự thường là theo đời, rồi theo chi. Trong một đời, người chép thường đi theo con trưởng trước, rồi đến các con thứ, mỗi người lại kéo theo dòng con cháu của mình ở đời kế tiếp. Có bản chép theo từng chi riêng biệt: hết chi trưởng mới sang chi hai. Hai cách đều dùng được, miễn phàm lệ nói rõ.

Có những đoạn kể dài hơn hẳn. Người có học vị, có công với làng, có chuyện đời đáng nhớ thường được kể kỹ. Những đoạn này quý vì giữ được ký ức, nhưng cũng là chỗ dễ thêm thắt nhất qua các lần chép lại. Đọc chúng như lời kể của dòng họ, và nếu muốn dẫn ra ngoài thì nên đối chiếu với nguồn khác như văn bia, sắc phong, sách địa chí.

Phả ký cũng ghi cả những chỗ trống. Một bản phả trung thực sẽ có những dòng như không rõ ngày giỗ, không rõ hậu duệ, nghe nói đi vào Nam. Những chỗ trống đó không làm cuốn phả kém đi; chúng cho người sau biết chỗ nào còn cần tìm.

Phả đồ và phả hệ: nhìn cả dòng họ trên một trang

Nếu phả ký là phần đọc, thì phả đồ là phần nhìn. Đó là sơ đồ nối các thế hệ bằng nét kẻ, mỗi ô là một người, đọc từ trên xuống dưới hoặc từ phải sang trái theo lối chữ Hán cũ. Có bản vẽ dọc, có bản vẽ ngang trải trên nhiều tờ gấp lại, có bản vẽ toả ra từ một tâm. Ở nhiều họ, chữ phả hệ được dùng gần như đồng nghĩa với phả đồ; có người lại dùng phả hệ để chỉ cả hệ thống các chi, các đời. Cách gọi không thống nhất, nên đọc phàm lệ để biết họ mình dùng thế nào.

Phả đồ không thay được phả ký. Một ô chỉ đủ chỗ cho tên và có khi là số đời, số thứ tự; mọi thông tin khác phải tra sang phần kể. Vì vậy hai phần cần khớp nhau: người có trong phả ký phải có trên phả đồ và ngược lại. Khi bổ sung phả, lỗi hay gặp là thêm người vào phần kể nhưng quên vẽ lên sơ đồ, vài lần như vậy là hai phần lệch nhau.

Phả đồ cũng là chỗ để kiểm lỗi nhanh nhất. Nhìn một lượt, bạn thấy ngay đời nào có một người mà không có con ghi tiếp, chi nào dừng đột ngột, ô nào bị nối nhầm vào một người cha khác đời. Những điểm đó chưa chắc là lỗi, có thể chỉ là thiếu thông tin, nhưng đáng ghi vào danh sách cần hỏi lại các cụ.

Với họ đông người, một phả đồ trọn vẹn có thể dài hàng mét. Nhiều họ chia thành một phả đồ tổng chỉ vẽ đến đời phân chi, cộng với phả đồ riêng cho từng chi. Cách này giúp mỗi chi in và treo phần của mình, còn bản tổng thì giữ ở nhà thờ họ.

Tộc ước, lệ họ và những phần ghi việc chung

Ngoài phần ghi người, gia phả còn là chỗ ghi những gì cả họ đã thống nhất. Các mục hay gặp:

  • Tộc ước: những điều cả họ cam kết, như giữ hoà khí, giúp nhau lúc hoạn nạn, khuyến học, cách cư xử giữa các chi. Có bản viết như lời răn, có bản viết thành điều khoản.
  • Lệ giỗ họ: ngày giỗ thuỷ tổ, ai chủ trì, các chi luân phiên ra sao, đóng góp thế nào. Phần chi tiết của lễ thường do ban liên lạc họ quyết từng năm, phả chỉ ghi phần lệ cố định.
  • Ruộng họ, đất họ: thời xưa nhiều họ có ruộng hương hoả, ruộng khuyến học, thu hoa lợi để lo việc thờ cúng và giúp con cháu đi học. Phả ghi vị trí, diện tích theo cách đo thời đó và người canh tác.
  • Nhà thờ họ: ghi năm dựng, các lần tu bổ, người cung tiến, hiện vật quan trọng. Phần này về sau rất có ích khi họ muốn làm hồ sơ tu bổ hay đề nghị xếp hạng di tích.
  • Sắc phong, văn bằng, văn bia: có bản chép nguyên văn những tư liệu này vào cuối phả, có bản chỉ ghi tên và nơi cất giữ.

Tộc ước cũ nhiều khi có những điều không còn hợp với hôm nay, chẳng hạn quy định riêng cho con gái hay nàng dâu. Bản gốc giữ nguyên như một tư liệu; nếu họ muốn đổi lệ, ghi lệ mới thành một mục riêng có năm và có biên bản họp họ, không sửa vào bản cũ.

Mộ chí, kỵ nhật và các phụ lục: phần tra cứu của cuốn phả

Phần cuối cuốn phả thường là các bảng tra, nơi người trong họ mở ra nhiều nhất khi cần lo việc. Bảng dưới tóm các phụ lục hay gặp và việc chúng giúp được:

Phụ lụcGhi gìDùng khi nào
Mộ chí, mộ phầnNơi an táng của từng người, mô tả đường đi, mộ đã cải táng hay chưaTảo mộ, quy tập mộ, khi mộ phải di dời
Kỵ nhậtDanh sách ngày giỗ theo âm lịch, xếp theo thángPhân công giỗ trong năm, nhắc các chi
Văn bia, câu đốiBản chép hoặc phiên âm các văn bản khắc ở nhà thờ, ở mộĐối chiếu khi bản gốc bị mờ, mất
Danh sách đóng gópNgười góp công góp của cho lần lập phả, tu bổ nhà thờGhi nhận, minh bạch tiền họ
Bản đồ quê, sơ đồ làngVị trí nhà thờ, khu mộ, ruộng họ xưaNgười ở xa tìm về

Kỵ nhật thường là phần được dùng nhiều nhất trong năm. Nếu cuốn phả của họ bạn chưa có bảng này, lập một bảng riêng xếp theo tháng âm lịch là việc nhỏ mà cả họ được nhờ, vì không ai phải lật cả cuốn phả để tìm một ngày giỗ.

Phần ghi mộ nên mô tả bằng mốc dễ nhận ra như cạnh gốc cây, sau nhà ai, hàng thứ mấy trong khu nghĩa trang, vì mốc địa danh có thể đổi theo thời gian.

Cuốn phả của nhà bạn thiếu phần nào thì bổ sung thế nào

Rất ít cuốn phả đủ hết các phần kể trên. Nếu bạn được họ giao việc chỉnh lại, có thể đi theo trình tự sau để không làm xáo trộn bản cũ:

  1. Lập một danh mục: cuốn phả hiện có những phần nào, mỗi phần từ trang mấy đến trang mấy, tình trạng ra sao.
  2. Viết phàm lệ trước nếu chưa có, ghi lại đúng cách bản cũ đang dùng để người sau hiểu.
  3. Đối chiếu phả ký với phả đồ, đánh dấu những người có ở phần này mà thiếu ở phần kia.
  4. Lập bảng kỵ nhật và bảng mộ phần từ thông tin đã có trong phả ký, chưa cần đi thu thập thêm.
  5. Ghi lại các tư liệu rời đang nằm ở nhà thờ hoặc nhà các chi như văn bia, sắc phong, ảnh cũ thành một phụ lục, kèm nơi cất bản gốc.
  6. Trình bản danh mục và những phần đã bổ sung cho trưởng họ cùng các cụ, ghi nhận góp ý, rồi mới sang bước thu thông tin đời mới.

Làm theo thứ tự này, bạn sửa được những gì đang có trước khi thêm cái mới, và mỗi bước đều có thể dừng lại mà cuốn phả vẫn dùng được.

Câu hỏi thường gặp

Gia phả và tộc phả khác nhau thế nào?

Theo cách dùng phổ biến, tộc phả ghi cả một dòng họ gồm nhiều chi, còn gia phả có thể chỉ ghi một gia đình hay một chi. Trong đời sống hai chữ thường dùng lẫn cho nhau, nhiều họ gọi cuốn phả chung của cả họ là gia phả. Điều đáng quan tâm là phạm vi cuốn phả ghi đến đâu, phần này thường nằm trong lời tựa.

Phả đồ đọc từ phải sang trái hay từ trái sang phải?

Phả đồ trong các bản chữ Hán cũ thường theo hướng viết dọc, cột đọc từ phải sang trái. Bản quốc ngữ và bản in gần đây thường vẽ từ trên xuống, trái sang phải. Hãy xem ô thuỷ tổ nằm ở đâu, từ đó lần theo nét nối là biết chiều đọc của sơ đồ.

Cuốn phả nhà không có lời tựa thì có sao không?

Không sao, nhiều cuốn phả chép tay chỉ có phần ghi người và ngày giỗ. Nếu họ bạn đang chuẩn bị tục phả, có thể viết một lời tựa mới ghi lại những gì còn biết về lần lập phả trước, ai giữ, ai chép, để người đời sau có chỗ bám.

Tộc ước cũ có điều không còn hợp thì có được bỏ không?

Không nên xoá hay sửa vào bản cũ, vì đó là tư liệu của dòng họ. Cách nhiều họ làm là họp họ, thống nhất lệ mới, ghi lệ mới thành một mục riêng có ngày tháng và có biên bản. Lệ nào đang áp dụng thì theo bản mới, bản cũ giữ để con cháu biết lịch sử.

Có cần chép nguyên văn bia mộ vào gia phả không?

Nếu bia còn đọc được thì nên chép hoặc chụp lại, vì chữ trên bia mòn dần theo thời gian. Bia chữ Hán Nôm thì nhờ người biết chữ phiên âm, dịch nghĩa, rồi đưa cả ảnh, phiên âm và bản dịch vào phụ lục, ghi rõ ai dịch và năm dịch.

Phả đồ quá dài thì trình bày thế nào cho dễ xem?

Cách hay gặp là làm một sơ đồ tổng chỉ vẽ đến đời các chi tách ra, rồi mỗi chi có sơ đồ riêng tiếp nối. Mỗi sơ đồ chi ghi rõ nó nối vào ô nào của sơ đồ tổng. Như vậy mỗi chi giữ được phần của mình mà không ai lạc khỏi bức tranh chung.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183