Tục phả là việc chép nối tiếp gia phả khi dòng họ có thêm người, thêm đời, hoặc có thêm thông tin về các đời trước; nguyên tắc chung là giữ nguyên bản cũ, ghi phần mới thành một lần tục phả có năm, có người chủ trì, có danh sách thay đổi rõ ràng. Nhiều họ tục phả theo chu kỳ vài chục năm một lần, có họ làm khi nhà thờ được tu bổ hay khi các chi gặp lại nhau.
So với lập phả mới, tục phả có cái khó riêng: phải tôn trọng những gì người trước đã ghi, phải thu thông tin từ nhiều chi ở nhiều nơi, và phải đủ minh bạch để không chi nào thấy mình bị ghi thiếu. Bài đi qua cả quy trình, từ quyết định tục phả đến lúc có bản mới trong tay.
Tục phả khác lập phả mới ở chỗ nào
Lập phả là làm từ đầu, khi họ chưa có cuốn phả nào hoặc cuốn cũ đã thất lạc hẳn. Người lập phả phải đi hỏi, đi tìm bia mộ, bài vị, giấy tờ cũ để dựng lại các đời. Tục phả thì đã có một nền: một cuốn phả do người trước chép, có cấu trúc, có quy ước, có những thông tin mà người hôm nay không thể kiểm lại được nữa.
Vì có nền, việc của người tục phả là nối tiếp chứ không phải viết lại. Những gì bản cũ ghi được giữ nguyên, kể cả khi người tục phả thấy chưa hợp lý; nếu có chỗ cần sửa thì ghi chú sửa, không xoá. Phần mới gồm các đời sinh sau lần chép trước, những người trước đây bị sót, thông tin mới về nơi an táng, các lần cải táng, và những thay đổi trong lệ họ.
Chữ tục ở đây là nối, như trong tiếp tục. Trong nhiều cuốn phả, mỗi lần tục phả có một lời tựa riêng ghi năm, người chủ trì và lý do; các lời tựa nối nhau đầu cuốn chính là lịch sử của cuốn phả qua các đời. Người tục phả hôm nay nên viết lời tựa của mình với tinh thần đó: để người đời sau biết lần này ai làm, làm những gì.
Khi nào thì nên tục phả
Khi đã có thêm một đến hai đời. Nếu từ lần chép cuối đến nay đã có thêm một hoặc hai thế hệ mà chưa ai ghi, đó là lúc nên làm. Để lâu hơn, nhiều người lớn tuổi nắm thông tin đã mất, việc hỏi lại khó hơn hẳn.
Khi nhà thờ họ được tu bổ hoặc khánh thành. Những dịp lớn như vậy các chi về đông đủ, là lúc thuận để thu thông tin và để họ cùng quyết định các thay đổi về cách ghi.
Khi các chi thất lạc tìm lại được nhau. Một chi từ nơi khác về nhận họ mang theo cả một nhánh mới. Ghi nhận họ vào phả bằng một lần tục phả chính thức tránh được cảm giác chi đó bị đứng ngoài.
Khi họ quyết định đổi lệ ghi chép. Chẳng hạn bắt đầu ghi đủ con gái, ghi thêm nàng dâu, đổi hệ đánh số. Thay đổi quy ước nên đi kèm một lần tục phả để có điểm mốc rõ ràng.
Không cần đợi đủ thông tin mới làm. Một lần tục phả với vài chỗ trống vẫn tốt hơn nhiều so với chờ thêm hai mươi năm. Chỗ trống ghi là chưa rõ, lần sau bổ sung tiếp.
Ai giữ quyền sửa: người chép phả và hội đồng họ
Một cuốn phả nhiều người cùng sửa thì sớm muộn sẽ lệch. Cách nhiều họ làm là cử một người hoặc một nhóm nhỏ chịu trách nhiệm chép phả, thường là người viết chữ đẹp, cẩn thận, có thời gian, không nhất thiết là người nhiều tuổi nhất. Mỗi chi cử một người đầu mối thu thông tin của chi mình và gửi cho nhóm chép phả.
Nhóm chép phả không tự quyết những việc thuộc về cả họ. Những câu hỏi như có ghi con gái không, có nhận một chi mới không, có sửa một chỗ phả cũ đang ghi không phải là việc của trưởng họ, hội đồng gia tộc hoặc cuộc họp họ. Nhóm chép phả chuẩn bị phương án, ghi lại quyết định, và thực hiện.
Người chép phả cũng nên được họ hỗ trợ cụ thể: một khoản chi minh bạch cho việc đi lại, in ấn, chụp ảnh tư liệu, được ghi vào sổ quỹ họ; thời gian làm hợp lý, không dồn trong vài tuần trước ngày giỗ họ. Tục phả là việc của nhiều tháng, có khi cả năm. Một người làm một mình dưới áp lực thời gian là nguồn sai sót lớn nhất.
Một điều nên làm sớm: lập văn bản ngắn giao việc, ghi tên người chủ trì, các đầu mối từng chi, thời gian dự kiến, cách duyệt bản cuối. Văn bản này về sau đặt ở đầu phần tục phả. Nó giúp mọi người biết hỏi ai, và giúp người chép phả có chỗ dựa khi phải nói không với một yêu cầu không đúng quy trình.
Thu thông tin từ các chi
Phần tốn công nhất của tục phả là thu thông tin. Trình tự dưới đây giúp các chi gửi về đủ và cùng một dạng:
- Nhóm chép phả soạn một phiếu mẫu cho mỗi gia đình: họ tên, tên gọi khác, cha mẹ, vợ hoặc chồng, các con theo thứ tự, ngày giỗ người đã mất, nơi an táng, nơi ở hiện tại.
- Gửi phiếu kèm bản trích phần phả cũ của chi đó, để mỗi nhà thấy mình đang nối vào đâu và kiểm luôn phần cũ.
- Đầu mối từng chi đi từng nhà hoặc gọi điện, ghi phiếu cho các cụ không tiện tự viết; với người ở xa, cho phép gửi ảnh chụp phiếu.
- Hẹn một mốc gửi về cụ thể, nhắc lại trước mốc một tuần; nhà nào chưa gửi thì ghi là chờ bổ sung chứ không bỏ.
- Nhóm chép phả nhập tất cả vào một bảng chung, đánh dấu chỗ mâu thuẫn giữa phiếu mới với phả cũ để hỏi lại.
- Gửi lại cho từng chi bản đã nhập để soát lỗi chính tả tên người, thứ tự con, trước khi chép vào phả.
Đừng xem nhẹ bước gửi lại để soát. Viết sai một chữ trong tên người là lỗi phổ biến nhất của các bản tục phả, và người phát hiện ra thường chỉ là chính gia đình đó.
Ghi phần mới mà giữ nguyên phần cũ
Bản cũ không bị viết thêm vào. Với cuốn phả chép tay cũ, không viết chen vào lề hay giữa các dòng. Phần tục phả là một phần riêng, đóng sau hoặc thành quyển mới, dẫn chiếu về trang của bản cũ.
Mỗi người mới nối vào một người cũ. Mục của một người đời mới ghi rõ con ai, kèm mã hoặc số trang của người cha hoặc mẹ trong bản cũ. Nhờ vậy người đọc lần được từ phần mới về phần cũ.
Thông tin bổ sung cho người cũ ghi thành mục đính kèm. Ví dụ tìm được ngày giỗ một cụ trước đây ghi chưa rõ, hoặc mộ một cụ đã được cải táng. Ghi trong một mục bổ sung: trang mấy của bản cũ, nội dung bổ sung, nguồn.
Giữ nguyên cách viết tên theo giấy tờ. Người đời mới có tên trên giấy khai sinh, căn cước; phả nên ghi đúng như thế, kể cả dấu thanh và tên đệm, để sau này con cháu cần đối chiếu giấy tờ thì không vướng. Nếu gia đình quen gọi bằng tên khác, ghi thêm trong ngoặc.
Đánh dấu rõ phần nào là của lần tục phả này. Khi in lại thành một cuốn gộp, có thể dùng ký hiệu nhỏ hoặc phần chú thích cuối để phân biệt thông tin cũ và mới. Người đời sau sẽ cần biết thông tin nào có từ bao giờ.
Sổ ghi biến động giữa hai lần tục phả
Một cách để lần tục phả sau đỡ vất vả là giữ một sổ biến động trong khoảng giữa. Sổ này đơn giản, do người chép phả hoặc ban liên lạc giữ, ghi mỗi khi có tin:
| Loại tin | Ai báo | Ghi gì |
|---|---|---|
| Sinh | Gia đình báo đầu mối chi | Tên, ngày sinh, con ai, thứ mấy |
| Cưới | Gia đình hoặc đầu mối chi | Tên vợ hoặc chồng, cha mẹ và quê bên kia |
| Mất | Gia đình | Ngày mất theo âm lịch, nơi an táng hoặc gửi tro cốt |
| Cải táng, quy tập mộ | Người lo việc mộ | Ngày, nơi cũ, nơi mới |
| Đổi nơi ở | Chính người đó | Tỉnh, nước nơi đang sống (không cần địa chỉ cụ thể) |
| Thông tin về đời trước | Bất kỳ ai | Nội dung, nguồn, người cung cấp |
Sổ có thể là một quyển vở, cũng có thể là một bảng tính chung. Điều quan trọng là có một chỗ duy nhất để ghi và một người chịu trách nhiệm. Đến lần tục phả, nhóm chép phả chỉ cần đối chiếu sổ này với phiếu các chi thay vì bắt đầu từ trang trắng.
Khi các chi không đồng thuận về phần ghi
Tục phả hay làm lộ ra những bất đồng cũ: chi nào là trưởng, một cụ thuộc đời nào, có nhận một chi mới về hay không. Người chép phả không nên đứng ra phân xử. Việc của họ là ghi lại cả hai cách hiểu, nêu nguồn của mỗi bên, và đưa ra họp họ.
Trong lúc chưa thống nhất, phần bất đồng có thể ghi với chữ hiện còn hai thuyết, kèm mô tả ngắn từng thuyết. Phần còn lại của cuốn phả vẫn hoàn thành và in được. Nhiều họ đã để một chỗ như vậy qua hai lần tục phả rồi mới tìm được tư liệu giải đáp; điều đó không làm cuốn phả kém giá trị.
Điều nên tránh là để bất đồng làm dừng cả việc tục phả, hoặc để một bên tự in một bản riêng. Hai cuốn phả song song của cùng một họ là tình trạng rất khó gỡ về sau. Nếu bất đồng quá lớn, có thể mời một người ngoài được cả hai bên tin, như một cụ cao niên trong làng hay người nghiên cứu địa phương, ngồi nghe và giúp tìm điểm chung.
Câu hỏi thường gặp
Bao nhiêu năm thì nên tục phả một lần?
Không có con số cố định. Nhiều họ tục phả khi đã có thêm một đến hai thế hệ, tức khoảng hai đến ba mươi năm. Họ đông người, phát triển nhanh có thể làm sớm hơn. Giữ một sổ biến động giữa hai lần giúp việc tục phả nhẹ hơn nhiều.
Người tục phả có được sửa chỗ sai trong phả cũ không?
Không nên sửa trực tiếp vào bản cũ. Nếu có bằng chứng một chỗ ghi sai, hãy ghi chú trong phần tục phả: trang nào, bản cũ ghi gì, nay xác định là gì, căn cứ vào đâu, ai quyết định. Bản cũ giữ nguyên như một tư liệu lịch sử.
Chi ở xa không gửi thông tin thì tục phả có phải chờ không?
Không cần chờ mãi. Đặt một mốc thời gian, nhắc nhiều lần, và khi hết hạn thì ghi phần chi đó là chờ bổ sung. Khi chi ấy gửi về, ghi vào sổ biến động để đưa vào lần tục phả sau hoặc một bản bổ sung nhỏ.
Có cần làm lễ khi hoàn thành tục phả không?
Nhiều họ có lễ cáo yết tổ tiên khi xong bản phả mới, thường gắn với ngày giỗ họ hay dịp họp họ đầu năm. Lễ lớn hay nhỏ tuỳ điều kiện và lệ của từng họ; phần nghi thức nên hỏi trưởng họ và các cụ.
Tục phả có nên làm cả bản số không?
Nên. Bản số giúp các chi ở xa xem được, giúp lần tục phả sau đỡ phải chép lại từ đầu, và là một bản dự phòng nếu bản giấy hư hại. Bản số nên do nhóm chép phả giữ, có phân quyền rõ ai được sửa.
Tục phả có cần ghi người còn sống không?
Có, đời mới chủ yếu là người còn sống. Tuy nhiên chỉ ghi những thông tin để nhận ra người và nối quan hệ như tên, cha mẹ, vợ chồng, con cái. Thông tin liên lạc như điện thoại, địa chỉ cụ thể nên giữ ở sổ riêng của ban liên lạc, không chép vào phả.