Với một cuốn gia phả chữ Hán Nôm cũ, việc đầu tiên là chụp hoặc quét toàn bộ để có bản sao, sau đó cất bản gốc vào hộp khô ráo và chỉ làm việc trên bản sao; người phiên dịch nên làm đủ ba lớp phiên âm, dịch nghĩa, chú thích, và bản dịch cần được một người thứ hai đọc đối chiếu. Làm theo thứ tự này, bản gốc ít bị đụng chạm nhất mà nội dung vẫn đến được tay con cháu.
Nhiều gia đình giữ cuốn phả cũ trong tủ thờ hàng chục năm, không ai đọc được, đến khi mở ra thì giấy đã giòn, mối đã ăn mép. Bài hướng dẫn từ lúc nhận diện tình trạng cuốn phả, những điều tránh làm với bản gốc, đến cách tìm người dịch và kiểm bản dịch. Việc đọc chữ bằng phần mềm chỉ được nhắc qua, vì đó là một chủ đề riêng.
Nhận diện cuốn phả cũ: chất liệu, chữ viết, tình trạng
Phần lớn gia phả cũ được chép tay trên giấy dó hoặc giấy bản bằng bút lông, mực đen, đóng chỉ thành quyển. Một số họ có bản in khắc gỗ, hiếm hơn. Từ đầu thế kỷ trước, nhiều họ bắt đầu chép phả bằng quốc ngữ, có khi song song với bản chữ Hán. Vì thế trong một nhà có thể có nhiều bản phả: bản chữ Hán cũ, bản quốc ngữ chép lại, và những tờ ghi chép bổ sung rời.
Chữ trong phả cũ phần lớn là chữ Hán, nhưng tên người, tên đất, tên tục thường viết bằng chữ Nôm, và có những đoạn văn Nôm kể chuyện. Đây là lý do một người chỉ biết chữ Hán đôi khi vẫn bế tắc với một số chữ trong phả. Ghi nhận ngay từ đầu cuốn phả có chữ Nôm hay không giúp bạn tìm đúng người dịch.
Trước khi làm gì, hãy ghi lại tình trạng: bao nhiêu tờ, còn bìa không, có tờ nào rời, có vết mối, nấm mốc, ố nước, rách không, giấy còn mềm hay đã giòn gãy khi lật. Ghi bằng chữ và chụp vài ảnh tổng thể. Đây là mốc để biết cuốn phả có xuống cấp thêm theo thời gian không, và để người làm bảo quản, nếu có, biết mình nhận một bản ở tình trạng nào.
Những việc không nên làm với bản gốc
Rất nhiều cuốn phả cũ hỏng không phải vì thời gian, mà vì con cháu muốn giữ gìn theo cách không đúng. Những việc dưới đây nên tránh:
- Không ép plastic, không dán băng keo trong lên chỗ rách. Keo và nhựa sẽ ngả vàng, ăn vào giấy, về sau gỡ ra là rách thêm.
- Không viết, ghi chú, đánh số trang bằng bút bi hay bút dạ lên bản gốc. Muốn đánh dấu thì dùng mảnh giấy rời kẹp vào.
- Không phơi nắng để chống ẩm. Ánh nắng làm giấy giòn và mực phai nhanh; giấy ẩm nên để khô tự nhiên ở nơi râm, thoáng.
- Không tự tháo chỉ đóng quyển để chụp cho dễ, trừ khi có người làm bảo quản hướng dẫn.
- Không mang bản gốc đi photo nhiều lần. Đèn máy photo và việc ép gáy xuống mặt kính làm gãy gáy và mờ mực.
- Không cho mượn bản gốc mang về nhà. Ai cần đọc thì đọc bản sao; bản gốc chỉ ra khỏi hộp khi thật sự cần.
- Không cất trong tủ thờ sát bát hương hay gần nơi thắp hương lâu ngày, vì khói, tro và nhiệt bám vào giấy.
Nếu cuốn phả đã hỏng nặng, giấy vỡ vụn khi chạm, hãy dừng lại và hỏi ý một nơi có chuyên môn bảo quản tư liệu giấy như các thư viện lớn, kho lưu trữ hoặc viện nghiên cứu, trước khi tự làm bất cứ điều gì.
Chụp bản sao trước khi đưa ai đọc
Bản sao số là tấm lá chắn cho bản gốc. Không cần máy chuyên dụng; một điện thoại tốt và chút kiên nhẫn là đủ cho phần lớn trường hợp:
- Chọn chỗ có ánh sáng tự nhiên tản đều, tránh nắng chiếu thẳng; tắt đèn flash.
- Đặt cuốn phả trên mặt phẳng phủ vải tối màu, không ấn gáy mở hết cỡ; có thể kê hai cuốn sách hai bên để quyển mở vừa phải.
- Chụp từng trang thẳng góc từ trên xuống, chữ phủ gần kín khung, kể cả bìa, trang trống và các tờ rời.
- Ghi số thứ tự ảnh theo đúng thứ tự trang, nếu cuốn phả bị đảo tờ thì vẫn chụp theo thứ tự hiện có và ghi chú.
- Chụp thêm những chỗ chữ mờ ở góc nghiêng nhẹ và cận cảnh, vì người dịch sẽ cần.
- Lưu các ảnh gốc ở ít nhất hai nơi, rồi mới ghép thành một tệp để gửi người dịch.
Từ đây, mọi người trong họ muốn xem đều xem bản sao. Bản gốc được gói trong giấy không axit hoặc vải bông sạch, đặt trong hộp bìa cứng, cất nơi khô ráo, xa nơi đun nấu và thắp hương.
Tìm người phiên âm, dịch nghĩa
Người đọc được gia phả cũ thường là những người học chữ Hán Nôm bài bản: người làm nghiên cứu, giảng dạy Hán Nôm ở các trường đại học, người từng làm ở viện nghiên cứu hay thư viện, các cụ đồ còn biết chữ, một số nhà tu hành, các câu lạc bộ Hán Nôm ở địa phương. Hỏi qua trưởng họ, qua những họ đã dịch phả gần đây trong vùng thường là cách tìm nhanh nhất.
Khi gặp người dịch, nên hỏi họ đã từng dịch gia phả hay văn bia chưa, vì loại văn bản này có nhiều chữ riêng: tên huý viết kiêng, niên hiệu các triều, chức tước, địa danh cũ. Hãy nói rõ cuốn phả có chữ Nôm không, bao nhiêu trang, gia đình cần gì: chỉ phiên âm, hay phiên âm và dịch nghĩa, hay thêm chú thích kỹ.
Thoả thuận rõ từ đầu về thời gian, cách gửi bản dịch, và ghi công người dịch trong cuốn phả mới. Phần chi phí, nếu có, phụ thuộc vào số trang, độ khó của chữ, mức chú thích và tình trạng bản sao; mỗi nơi một khác nên thoả thuận trực tiếp, rõ ràng bằng văn bản ngắn. Công cụ đọc chữ bằng máy có thể giúp đọc nháp vài trang dễ, nhưng với chữ viết tay và chữ Nôm trong phả thì vẫn cần người kiểm lại từng chữ.
Ba lớp của một bản dịch gia phả
Bản dịch tốt không chỉ có lời dịch. Nó gồm ba lớp đi cạnh nhau, và người đọc sau cần cả ba để hiểu và để kiểm:
| Lớp | Là gì | Vì sao cần |
|---|---|---|
| Phiên âm | Đọc từng chữ Hán theo âm Hán Việt, chữ Nôm theo âm Việt, giữ đúng thứ tự | Người sau có thể đối chiếu từng chữ với bản gốc |
| Dịch nghĩa | Chuyển ý sang tiếng Việt hiện đại, dễ đọc | Con cháu không biết chữ cũ vẫn hiểu nội dung |
| Chú thích | Giải thích niên hiệu, chức tước, địa danh cũ, chữ khó đọc, chỗ người dịch chưa chắc | Biết chỗ nào chắc, chỗ nào còn ngờ |
| Ảnh trang gốc | Đặt cạnh phần phiên âm của trang đó | Ai cũng tra được về bản gốc mà không cần mở hộp |
Nhiều bản dịch gia phả trước đây chỉ có lời dịch xuôi, không phiên âm, không chú thích. Khi phát hiện một chỗ nghi sai, người sau không có cách nào kiểm lại mà phải mang bản gốc đi dịch lại từ đầu. Đề nghị người dịch làm đủ ba lớp ngay từ đầu tiết kiệm được rất nhiều công về sau.
Riêng phần niên hiệu và ngày tháng, việc quy đổi sang năm dương lịch cần cẩn thận; người dịch nên ghi nguyên văn trước, phần quy đổi để ở chú thích kèm mức độ chắc chắn.
Khi trong họ có nhiều bản chép khác nhau
Ở những họ lâu đời, các chi thường mỗi chi giữ một bản phả chép lại từ bản gốc của nhà thờ họ, mỗi lần chép một người khác nhau, vào những năm khác nhau. Vì thế cùng một cuốn phả có thể tồn tại ở ba, bốn dị bản: bản thiếu vài trang, bản có thêm phần ghi chép của chi, bản bị chép nhầm thứ tự đời. Đây là chuyện bình thường của tư liệu chép tay, không phải dấu hiệu bản nào giả.
Khi bắt tay vào phiên dịch, nên gom ảnh chụp của tất cả các bản đang có trong họ trước, rồi chọn một bản làm bản nền, thường là bản cổ nhất hoặc bản còn đầy đủ nhất. Các bản khác dùng để đối chiếu: chỗ nào bản nền mất chữ, rách, mờ thì xem các bản kia ghi gì; chỗ nào các bản ghi khác nhau thì ghi cả hai cách vào chú thích, kèm tên bản.
Để dễ theo dõi, đặt cho mỗi bản một tên ngắn theo nơi giữ, ví dụ bản nhà thờ, bản chi hai, bản chép năm nào. Ghi lại tình trạng của từng bản như đã làm với bản gốc. Về sau, nếu một bản bị thất lạc, ít nhất họ vẫn còn ảnh chụp và biết bản đó từng khác bản nền ở những chỗ nào.
Việc so dị bản thường mất công hơn dịch một bản, nhưng nó trả lại rất nhiều: nhiều họ đã tìm ra được tên những người bị chép sót, hoặc sửa được những chỗ cha con bị nối nhầm, chỉ nhờ đặt các bản cạnh nhau.
Đối chiếu bản dịch trước khi đưa vào phả mới
Ngay cả người dịch giỏi cũng có lúc đọc nhầm một chữ mờ hay một tên đất lạ. Trước khi chép bản dịch vào cuốn phả mới, nên có một vòng đối chiếu:
- Nhờ một người thứ hai biết chữ đọc lại phần phiên âm với ảnh trang gốc, đánh dấu những chữ đọc khác.
- Đối chiếu tên người và quan hệ cha con trong bản dịch với những gì gia đình đang biết, với bia mộ, bài vị còn lại.
- Kiểm các địa danh: tên làng, tên tổng cũ trong phả với tư liệu địa chí của tỉnh, hỏi người lớn tuổi trong vùng.
- Ghi tất cả chỗ chưa thống nhất vào chú thích, không tự chọn một cách đọc rồi bỏ cách kia.
- Gửi bản dịch cho trưởng họ và các chi đọc trước khi in, kèm hạn góp ý.
Bản dịch cuối cùng nên ghi rõ tên người phiên dịch, người đối chiếu và năm hoàn thành. Đó là cách để mọi lần tục phả sau biết mình đang dựa vào bản nào.
Câu hỏi thường gặp
Cuốn phả cũ bị mối ăn mất mấy chỗ thì có đọc được không?
Thường vẫn đọc được phần lớn. Người dịch sẽ đánh dấu chỗ mất chữ trong phần phiên âm và có thể đoán chữ dựa vào văn cảnh, nhưng chỗ đoán phải được ghi rõ là đoán. Nếu trong họ có bản chép khác của cùng cuốn phả, đối chiếu hai bản thường bù được chỗ mất.
Có nên gửi bản gốc cho người dịch mang về không?
Không nên nếu tránh được. Gửi bản sao số chất lượng tốt là đủ cho phần lớn việc dịch. Nếu người dịch cần xem trực tiếp vài chỗ mờ, hãy mời họ đến xem tại nhà hoặc nhà thờ họ, có người trong họ ngồi cùng.
Bản dịch cũ của ông nội làm từ mấy chục năm trước có cần dịch lại không?
Không nhất thiết, nhưng nên nhờ người đọc đối chiếu bản dịch cũ với ảnh bản gốc. Nếu bản cũ chỉ có lời dịch mà thiếu phiên âm, có thể bổ sung phiên âm và chú thích, giữ bản dịch cũ như một tư liệu và ghi rõ chỗ nào đã sửa.
Có thể tặng bản gốc cho thư viện hay viện nghiên cứu không?
Một số gia đình chọn gửi bản gốc hoặc bản sao cho các thư viện, kho lưu trữ, viện nghiên cứu để được bảo quản tốt hơn và phục vụ nghiên cứu. Việc này nên bàn trong họ, hỏi trước điều kiện của nơi nhận, và giữ cho họ một bản sao đầy đủ.
Phả có chữ Nôm mà người dịch chỉ biết chữ Hán thì sao?
Người chỉ biết chữ Hán có thể đọc được phần lớn văn bản nhưng sẽ vấp ở tên người, tên đất, đoạn văn Nôm. Nên hỏi trước người dịch có đọc được chữ Nôm không, hoặc nhờ thêm một người biết chữ Nôm đọc riêng những đoạn đó.
Có nên chép lại cả cuốn phả cũ bằng tay cho đẹp không?
Chép tay là một việc có ý nghĩa với nhiều gia đình, nhưng không thay được bản sao ảnh, vì chép lại luôn có rủi ro sai chữ. Nếu muốn chép, hãy chép từ bản sao ảnh, giữ bản gốc trong hộp, và ghi rõ người chép, năm chép ở trang đầu.